Quá khứ của hold là held, và vì sao nó hay bị chép thành helped

The Wallaby19 phút đọc12 lượt xem
Quá khứ của hold là held, và vì sao nó hay bị chép thành helped
Trên trang này

Bạn nghe chép chính tả một đoạn kể lại chuyện ở sân bay. Người nói buông một câu, bạn chép thành "He helped me back for a second", và phần chấm gạch đỏ đúng chữ thứ hai. Câu thật là "He held me back for a second". Hai từ này chỉ cách nhau một tiếng /p/ rất khẽ, và trong câu nói nhanh thì cả hai đều rụng phụ âm cuối, nên cái còn lại trong tai bạn là "hel mi" cho cả hai. Trả lời phần dễ trước: quá khứ đơn của hold là held, và quá khứ phân từ của hold cũng là held. Ngôi thứ ba số ít là holds, dạng V-ing là holding.

Cái khó của hold nằm ở hai chỗ. Thứ nhất là âm: chữ l trong held không phát ra thành tiếng l gọn mà tan về phía sau khoang miệng, còn chữ d cuối thì rụng khi từ tiếp theo bắt đầu bằng phụ âm. Kết quả là held chồng lên helped, và nghĩa của cả câu là thứ duy nhất tách được hai từ. Thứ hai là nghĩa: ngoài nghĩa cầm nắm mà ai cũng biết, hold còn nghĩa tổ chức, và nghĩa này gần như luôn xuất hiện ở dạng bị động was held, một cấu trúc người Việt ít chủ động dùng nên cũng ít nhận ra khi nghe.

Bài này đi hết chuỗi đó: bảng dạng của hold và nhóm động từ có V2 trùng V3, các nghĩa của held bao gồm cả nghĩa tổ chức và nghĩa bị cướp, kho phrasal verb rất đông mà hold sinh ra, và phần dài nhất là held vang lên thế nào khi người bản xứ nói ở tốc độ bình thường.

Bảng dạng của hold và nhóm V2 trùng V3

Năm dạng, gọn trong một bảng. Cột phiên âm ghi theo giọng Mỹ, chỗ nào giọng Anh khác rõ thì ghi thêm.

DạngTừPhiên âmVí dụ ngắn
Nguyên thể (V1)hold/hoʊld/ (Anh: /həʊld/)Hold this for me.
Ngôi thứ ba số ítholds/hoʊldz/She holds the record.
Quá khứ đơn (V2)held/held/He held the door open.
Quá khứ phân từ (V3)held/held/The event was held here.
Hiện tại phân từholding/ˈhoʊldɪŋ/She is holding my bag.

Từ hold sang held chỉ có một thay đổi: nguyên âm đôi /oʊ/ rút thành /e/ ngắn. Chữ h, chữ l, chữ d đều ở nguyên chỗ, không thêm đuôi nào, và hai dạng quá khứ nhập làm một. Kiểu đổi nguyên âm trong lòng từ để đánh dấu thì gọi là ablaut, và đó là cơ chế chia động từ cổ nhất của tiếng Anh, có trước cả khi đuôi ed ra đời.

hold nằm trong một nhóm khá đông những động từ làm y hệt: đổi nguyên âm, không thêm gì, và V2 trùng V3. find thành found, stand thành stood, sit thành sat, win thành won, dig thành dug, hang thành hung, feed thành fed, meet thành met. Nhóm này ban đầu có nhiều dạng phân từ riêng, nhưng khi tiếng Anh giản lược dần hệ thống động từ mạnh, phân từ và quá khứ đơn của chúng nhập vào nhau. Với người học thì đây là tin tốt: nhớ một dạng là xong cả hai.

Có một chi tiết đáng để ý ở đây nếu bạn vừa đọc bài về put. put kết thúc bằng /t/ và không đổi gì cả. hold kết thúc bằng /d/ mà vẫn đổi hẳn nguyên âm. Nghĩa là cái luật quen thuộc rằng động từ kết thúc bằng t hoặc d thì thường giữ nguyên chỉ là một xu hướng, không phải một quy tắc bạn dựa vào được.

Thêm một điểm thực dụng: các động từ ghép từ hold chia y hệt hold. uphold thành upheld, withhold thành withheld, behold thành beheld. Ba từ này xuất hiện dày trong tin tức và văn bản pháp lý, kiểu "The court upheld the ruling" hay "They withheld the report", nên biết một lần là dùng được cả họ.

Ba động từ nữa đáng đọc, mỗi cái vì một lý do. Quá khứ của help là bài quan trọng nhất trong ba bài, vì helped và held gần như trùng âm khi cả hai rụng phụ âm cuối, và đây là cặp bị chép lẫn nhiều nhất. Quá khứ của tell cho ra told, cũng kết thúc bằng cụm /ld/ và cũng rụng chữ d trước phụ âm, nên hai bài chữa cùng một tật nghe. Quá khứ của find là bạn cùng khuôn gần nhất, cũng đổi nguyên âm rồi dừng và cũng có V2 trùng V3. Nếu bạn ôn cả hệ thống chứ không riêng một động từ, hãy mở bài ngữ pháp tiếng Anh trước.

Held trong câu, kể cả nghĩa tổ chức mà sách hay bỏ qua

Luật chia thì quen thuộc: held đứng một mình là quá khứ đơn, held đi sau have, has, had hoặc be là phân từ. Với hold thì vế bị động đáng chú ý hơn bình thường, vì cấu trúc was held và were held xuất hiện cực dày trong tin tức và trong email công việc.

CâuĐúng hay saiVì sao
She held the door open for me.ĐúngQuá khứ đơn, held đứng một mình
The meeting was hold on Monday.SaiBị động cần phân từ held, không phải nguyên thể
They have held three meetings this week.ĐúngPhân từ đi sau have, tuần vẫn đang mở
Did you held the ticket for me?SaiSau did là nguyên thể hold
He has held that job for ten years.ĐúngHiện tại hoàn thành, anh ấy vẫn đang làm công việc đó
The election will be hold in May.SaiSau be phải là phân từ held

Hai dòng cuối chạm vào chỗ mà người học hay bỏ qua nhất. Trong tiếng Anh, hold là động từ chuẩn dùng cho việc tổ chức một sự kiện: hold a meeting, hold an election, hold a concert, hold a press conference. Và vì người ta thường quan tâm tới sự kiện hơn tới ban tổ chức, câu gần như luôn ở dạng bị động: "The conference was held in Da Nang". Người Việt quen nói ai đó tổ chức cái gì nên hay dịch thành organize, và bỏ lỡ cả một nhóm câu rất phổ biến.

Sáu dòng dưới đây tách các nghĩa hay bị lẫn của hold. Chú ý rằng hai dòng cuối dùng cùng một cụm hold up mà nghĩa cách nhau rất xa.

CâuNghĩa thật
They held a meeting on Tuesday.Họ tổ chức một cuộc họp, hold ở nghĩa tổ chức
They attended the meeting on Tuesday.Họ tới dự cuộc họp, vai trò hoàn toàn khác
Hold on a second.Chờ một chút, nghĩa chờ
Hold on to the rail.Bám chặt vào tay vịn, nghĩa nắm giữ
The flight was held up by fog.Chuyến bay bị chậm vì sương mù
The shop was held up last night.Cửa hàng bị cướp tối qua

Cặp cuối là chỗ ngữ cảnh gánh toàn bộ công việc. Cùng một cụm hold up, đi với phương tiện và giao thông thì là bị chậm, đi với ngân hàng, cửa hàng, người cầm vũ khí thì là bị cướp. Danh từ holdup cũng mang cả hai nghĩa theo đúng kiểu đó.

Còn khi nào chọn held thay vì have held? Ngoài luật mốc thời gian quen thuộc, hold có một tình huống riêng đáng nhớ vì nó hay đi với khoảng thời gian dài. "He held that job for ten years" nghĩa là anh ấy đã nghỉ, mười năm đó khép lại rồi. "He has held that job for ten years" nghĩa là tới bây giờ anh ấy vẫn đang làm. Chọn nhầm ở đây không sai ngữ pháp, nó chỉ kể sai chuyện.

Nghe held trong câu nói thật

Đây là phần bảng chia động từ không chạm tới, và với hold thì nó quyết định phần lớn. Trên giấy, held là bốn chữ cái rõ ràng và không giống bất cứ từ nào khác. Trong âm thanh thì hai trong bốn chữ ấy không ổn định.

Chữ l trong held tan về phía sau khoang miệng. Âm /l/ đứng trước phụ âm không phát ra bằng đầu lưỡi chạm lợi như chữ l tiếng Việt, mà lùi lại và biến thành một tiếng gần /w/. Nếu bạn đang chờ nghe một tiếng l gọn để xác nhận đó là held, bạn sẽ không nghe thấy.

Chữ d cuối rụng khi từ sau bắt đầu bằng phụ âm. "held me" ra thành "hel me", "held back" ra thành "hel back", "held them" ra thành "hel them". Cái vừa mất chính là phần duy nhất đánh dấu rằng đây là một từ hoàn chỉnh chứ không phải nửa từ nào khác.

held và helped chồng lên nhau. Đây là cặp nguy hiểm nhất của cả trang này. "He held me back" còn lại "hi hel mi back", và "He helped me" còn lại "hi help mi", trong đó tiếng /p/ rất khẽ và hay bị nuốt luôn. Khi cả hai đã rụng phụ âm cuối, chúng gần như là cùng một chuỗi âm. Cách duy nhất là nghe hết câu rồi mới quyết định, vì sau helped thường là một người cộng một việc, còn sau held thường là một vật hoặc một người bị giữ.

hold on dính thành một khối và chữ d nhảy sang. "Hold on a second" ra thành "hol-donna second". Chữ d không mất, nó chạy sang làm phụ âm đầu cho chữ on, rồi chữ on lại dính tiếp vào chữ a. Người học nghe một khối âm và tách sai chỗ, cho ra một cái tên riêng không tồn tại trong câu.

Chữ was trong câu bị động rút gần hết. "The meeting was held on Monday" ra thành "the meeting wuz hel-don Monday", và phần wuz chỉ là một tiếng /z/ có nguyên âm mờ. Nghe hụt là chép ra "The meeting held on Monday", một câu sai ngữ pháp mà tai bạn thấy hoàn toàn hợp lý vì held vẫn nghe rõ.

hold up đổi trọng âm khi thành danh từ. Ở dạng động từ, trọng âm rơi vào up: "They held us up". Ở dạng danh từ, trọng âm dời lên hold: "There was a holdup on the bridge". Nghe ra chỗ trọng âm rơi vào đâu là biết ngay câu đang nói về hành động hay về sự việc.

Bảng dưới là những câu kiểu bạn sẽ gặp khi nghe, kèm cách chúng vang ra và cách người học hay chép nhầm. Cột giữa chép theo những gì tai nghe thấy, không phải theo từ điển.

Câu thậtNghe ra nhưNgười học hay chép thành
He held me back for a second.hi hel mi back fura secondHe helped me back for a second.
Hold on a second, I am checking.hol-donna second am chekinHold Donna second, I am checking.
The meeting was held on Monday.the meeting wuz hel-don MondayThe meeting held on Monday.
She has held that job for years.shiz hel that job fur yearsShe held that job for years.
Traffic held us up for an hour.trafik hel-dus up fur an hourTraffic held a bus up for an hour.
He couldn't hold back a smile.hi kudn hol back a smileHe could hold back a smile.

Cột thứ ba chia thành ba loại lỗi. Dòng một là lỗi hai từ chồng âm, và nó chỉ chữa được bằng nghĩa chứ không chữa được bằng tai. Dòng hai và dòng năm là lỗi ranh giới từ: chữ d nhảy sang từ sau nên bạn cắt câu sai chỗ và cho ra một từ có thật nhưng sai. Dòng ba, bốn và sáu là lỗi từ chức năng không trọng âm, khi một tiếng /z/ của was hoặc has, hay một tiếng /n/ của phủ định, quyết định cả nghĩa mà lại là phần mỏng nhất trong câu.

Minh họa hai dải sóng âm chồng khít lên nhau thành một hình mờ, ví von cho held và helped trùng âm
Khi cả hai đều rụng phụ âm cuối, held và helped để lại gần như cùng một chuỗi âm.

Khi bạn ngồi nghe chép chính tả trên WELE, chuỗi này thôi nằm trên lý thuyết. Bạn nghe một câu, chép đúng những gì tai bắt được, rồi phần chấm chỉ thẳng vào chỗ sai. Khi câu thật là "He held me back" mà bạn chép "He helped me back", cái bạn nhận về không phải một lời nhắc rằng quá khứ của hold là held. Bạn đã biết điều đó. Cái bạn nhận về là một chẩn đoán khác: tai bạn không phân biệt được hai chuỗi phụ âm đã cùng bị rút gọn, và trong tình huống đó thì nghĩa của cả câu mới là công cụ.

Chỗ sửa mới là chỗ trí nhớ thật sự hình thành. Với hold thì thói quen đáng tập là đọc lại tân ngữ trước khi chốt động từ. Nếu phía sau là một người và một việc thì gần như chắc chắn là helped. Nếu phía sau là một vật, một cánh cửa, một chỗ, hoặc một cụm như back, on, up thì là held. Sau vài chục lần làm như vậy, bước kiểm tra ấy chạy tự động và bạn không còn phải nghĩ nữa.

Nếu bạn muốn hiểu vì sao các phụ âm cuối rụng và nhảy chỗ chứ không phải vì bạn nghe kém, bài connected speech giải thích cơ chế nối âm và nuốt âm cho cả câu. Còn nếu muốn thử ngay trên câu thật, thư viện podcast có transcript để đối chiếu sau mỗi lần chép, và hold thì xuất hiện dày trong cả hội thoại sinh hoạt lẫn bản tin.

Phrasal verb với hold, từ hold on tới hold up

hold là một trong những động từ sinh ra nhiều phrasal verb nhất, và điều đáng nói là phần lớn chúng không còn liên quan mấy tới nghĩa cầm nắm ban đầu. Mười ba dòng bên dưới gom những cụm hay gặp nhất, và đều để ở dạng quá khứ hoặc phân từ cho bạn quen mặt.

CụmNghĩaVí dụ
hold onChờ một chútShe held on while I found the file.
hold on toBám chặt, giữ lại không buôngHe held on to the rail the whole way down.
hold upLàm chậm, hoặc cướp có vũ khíRoadworks held us up for forty minutes.
hold backKìm lại, giữ lại không nói raShe held back the worst of the news.
hold offHoãn lại, chưa làm vộiWe held off on the order until Friday.
hold outCầm cự, hoặc chìa raThe old laptop held out for another year.
hold downGiữ được một công việcHe has held down two jobs since March.
hold inNén lại cảm xúcShe held in her anger until the door closed.
hold togetherKhông rã ra, còn trụ đượcThe team held together through a bad year.
hold againstĐể bụng chuyện gì với aiNobody held it against him afterwards.
hold a meetingTổ chức một cuộc họpThey held a meeting without telling us.
hold handsNắm tay nhauThe two of them held hands the whole film.
hold your breathNín thở, hoặc chờ trong hồi hộpEveryone held their breath for a second.

Hai cụm dễ nhầm nhất là hold off và hold out, vì chúng nghe gần nhau và đều mang ý cầm cự. hold off là chưa làm, cố ý hoãn lại. hold out là đang chịu đựng, đang trụ được. "We held off on the decision" là chúng tôi hoãn quyết định. "We held out until help arrived" là chúng tôi trụ được cho tới lúc có người tới.

Còn hold on thì cần một lưu ý về ngữ cảnh. Trong hội thoại, hold on và cả câu cụt "hold up" thường được dùng như một tiếng ngắt lời, nghĩa là khoan đã. Bạn sẽ nghe rất nhiều và nó hoàn toàn bình thường khi nói, nhưng đừng bê vào email công việc hay bài viết trang trọng, ở đó người ta dùng one moment please hoặc bear with me.

Lỗi người Việt hay mắc với hold

holded. Đây là phản xạ thêm ed cho mọi động từ. hold không bao giờ chia theo quy tắc, cả V2 lẫn V3 đều là held. Các động từ ghép cũng vậy: upheld, withheld, beheld, không có upholded hay withholded.

Did you held. Sau did thì động từ về nguyên thể, vì did đã mang nghĩa quá khứ rồi. "Did you hold the ticket for me?" mới đúng. Lỗi này hay xuất hiện đúng lúc bạn vừa nhớ kỹ rằng quá khứ của hold là held và đang muốn dùng cho bằng được.

The meeting was hold. Đây là lỗi riêng và rất phổ biến của hold, vì nghĩa tổ chức gần như luôn đi với câu bị động. Sau be thì phải là phân từ: was held, were held, will be held, has been held. Câu đúng là "The meeting was held on Monday" và "The election will be held in May".

Chép held thành helped hoặc ngược lại. Đây không hẳn là lỗi ngữ pháp mà là lỗi nghe biến thành lỗi viết. Cách kiểm tra khi soi lại bài chép: nhìn vào cái đứng sau động từ. Nếu là một người rồi tới một việc thì đó là helped. Nếu là một vật, một cánh cửa, hoặc một trong các cụm back, on, up, off thì đó là held.

Dùng hold vào chỗ của keep. Tiếng Việt dùng chữ giữ cho cả hai. hold là cầm trong tay hoặc giữ tạm trong chốc lát, keep là giữ lại lâu dài hoặc giữ luôn. "Can you hold my bag for a minute?" là nhờ cầm hộ một lát. "You can keep it" là bạn cứ giữ lấy luôn. Nói "Please hold my passport" với ý gửi giữ dài ngày thì người nghe hiểu lệch.

Câu kiểu He don't hold nothing back. Bạn sẽ nghe thấy nó trong lời bài hát và trong hội thoại thoải mái ở nhiều vùng nói tiếng Anh. Chuyện bạn nghe thấy nó và chuyện bạn được dùng nó là hai chuyện tách rời. Trong bài thi, trong email công việc, trong bất cứ văn bản nào, cả chữ don't lẫn phủ định kép đều bị tính là sai. Bản chuẩn là "He doesn't hold anything back" hoặc "He holds nothing back".

Bài tập nhanh

Tám câu, điền hold, holds, held hoặc holding. Chú ý các câu bị động, vì đó là chỗ hold hay bị chia sai nhất. Làm hết rồi mới nhìn đáp án.

  1. The conference was ______ in Da Nang last November.
  2. Did you ______ the lift for her?
  3. He has ______ the same position since 2019.
  4. She ______ my hand all the way across the bridge.
  5. Roadworks ______ us up for nearly an hour yesterday.
  6. The next election will be ______ in May.
  7. He ______ the record for the fastest time in the club.
  8. They are ______ a short meeting after lunch.

Đáp án: 1. held. 2. hold. 3. held. 4. held. 5. held. 6. held. 7. holds. 8. holding.

Câu 2 và câu 6 là hai câu nhiều người hụt. Câu 2 có did đứng trước nên động từ về nguyên thể, dù cả câu nói về chuyện đã qua. Câu 6 có will be đứng trước nên cần phân từ held, và đây đúng là chỗ mà nhiều người viết hold vì thấy câu đang nói về tương lai. Nếu bạn sai hai câu này thì bảng đúng sai ở phần trên đáng đọc lại một lượt.

Câu hỏi thường gặp

Quá khứ của hold là gì?

Quá khứ đơn của hold là held, và quá khứ phân từ cũng là held. Hai dạng viết y hệt nhau, nên cách phân biệt là nhìn xem trước nó có have, has, had hoặc be không.

Was hold hay was held?

Luôn là was held. Sau động từ be thì phải dùng phân từ, và phân từ của hold là held. Câu đúng là "The meeting was held on Monday", "The event will be held online", "Three sessions have been held so far".

Held và helped phân biệt thế nào khi nghe?

Ở tốc độ nói bình thường thì rất khó, vì cả hai đều rụng phụ âm cuối và chỉ còn khác nhau một tiếng /p/ rất khẽ. Cách thực tế là dựa vào cái đứng sau: sau helped thường là một người cộng một việc, sau held thường là một vật, một cánh cửa, hoặc một cụm như back, on, up.

Hold có nghĩa tổ chức thật không?

Có, và đây là nghĩa rất thông dụng trong tin tức và văn bản công việc: hold a meeting, hold an election, hold a concert. Vì người ta thường quan tâm tới sự kiện hơn tới ban tổ chức nên câu hầu như luôn ở dạng bị động, kiểu "The conference was held in Hanoi".

Holded có phải một dạng của hold không?

Không. hold là động từ bất quy tắc thuộc nhóm đổi nguyên âm và có V2 trùng V3, cùng khuôn với find thành found và stand thành stood. Các động từ ghép cũng chia y hệt: uphold thành upheld, withhold thành withheld.

Luyện bao lâu thì hết nhầm held với helped?

Mặt luật thì không mất nhiều thời gian, một buổi là xong. Phần tai thì tùy nền nghe hiện tại, và cách hiệu quả nhất là chép chính tả rồi mỗi lần sai lại soi xem cái đứng sau động từ là gì. Một lượt kiểm tra trình độ nghe làm ngay hôm nay sẽ là mốc để so trong vài tuần tới.

Bảng dạng của hold chỉ có một từ để nhớ, và held thì cũng không giống từ nào khác khi nhìn trên giấy. Phần thật sự tốn thời gian là nhận ra nó khi chữ l đã tan và chữ d đã nhảy sang từ bên cạnh, và nhớ rằng was held mới là dạng đúng cho mọi sự kiện được tổ chức. Chọn một tập ngắn và thử nghe chép chính tả một đoạn có held, rồi đếm xem bao nhiêu lần bạn viết nhầm thành helped.

The Wallaby
The Wallaby đọc, tổng hợp và viết lại những gì hữu ích cho người tự học: nghe chép chính tả, luyện nghe và cách giữ thói quen học tiếng Anh.